Hiển thị các bài đăng có nhãn cừ lá sen. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cừ lá sen. Hiển thị tất cả bài đăng

11/12/2011

SEA - Vietnam Steel Price & Market Updating


SE Asian billet import market quiet, direction unclear

Offer prices for Korean billet to Southeast Asia are prevailing at $620-630/tonne CFR, regional trading sources say. Most offers to Thailand and Philippines are prevailing at $630/t CFR. A Thai trader has heard of Korean 150 billet, albeit an unpopular size, offered at $620/t CFR Thailand.

Taiwanese billet is being offered at around $610/t CFR in the Philippines. “So especial customers are getting offers at $620/t CFR,” a trader in Manila reports. Korean billet at $620/t CFR with its 3% import duty advantage earns that it is $20/t lower cheaper when compared to billets of other origin imported into the Philippines.
The Korean and Taiwanese mills are generally offering their billet on FOB basis at $600-605/t and $595-600/t respectively, regional trading sources tell SBB. Russian billet offers are at $615-620/t CFR in the region, SBB is told. Suppliers are currently giving offers for next month's deliveries.
“It has been quiet this past week. So sellers think that the market is bottoming out and are holding back on offers. At the sales tie, buyers are not anxious to book material,” a regional trader says. Despite offer prices falling by $5-10/t since last week, most regional importers are not interested because they are aiming to book at $600/t CFR. So buyers are even expecting billet prices to fall to $580-590/t CFR.
Offers to Indonesia are at $630-635/t CFR for Korean material. No import deals are reported to have taken place, however. The dollar's recent strengthening against regional currencies has also dented buying interest. "The rupiah is weakening. This is contributing to importers' hesitation to book billet now," an Indonesian re-roller tells SBB.


Vietnamese apparent steel consumption dips 10.

Production of construction long products in Vietnam during October reached 358,000 tonnes, a fall of14.2% fro the previous month and a 19.4% decrease year-on-year, according to Vietnam Steel Association (VSA) data. Sales of longs in October at 327,000t dipped by 14.4% -o- and fell by a significant 27% y-o-y.
Cumulative production of longs during this year’s first ten months reached 4.1t, up 2.4% fro the corresponding period of 2010. Sales rose to 3.97 t, an increase of 1.5% over January-October last year.
“Apparent consumption of finished steel in January-October is estimated to have fallen by 10% year-on-year,” VSA vice-chairman and general secretary Dinh Huy Ta tells SBB. The volume of steel Vietnam imported during January-October dropped by around 1t y-o-y. “The fall in consumption of at steel is sharper than for longs. Exports of steel products rose too,” he adds.
Ta is not optimistic about the Vietnamese steel market this month because the slump in international markets – as well as the uncertain global economic landscape – has caused market players to adopt a
wait-and-see approach„
Policies implemented by the Hanoi government to rein in very high inflation, such as the setting of bank lending interest rates at nearly 20% and other credit-tightening measures, have dampened steel demand.Since inflation was 17.05% during the first ten months and is expected to reach 18% by year-end, these tight monetary and fiscal policies are expected to continue beyond this year.
The VSA tracks data fro its member steel ills that together contribute around 85% of Vietnam's long steel production.

10/25/2011

Ứng dụng cọc ván thép trong thi công công trình thủy lợi



Trong những năm gần đây, nhiều công nghệ mới được ứng dụng vào lĩnh vực công trình nói chung và ngành thủy lợi nói riêng và đem lại hiệu quả cao về kinh tế, xã hội, kỹ thuật. Bài viết phân tích đánh giá việc ứng dụng cọc ván thép trong thi công các công trình thủy lợi, qua đó cho thấy tiềm năng to lớn của công nghệ này

Trước đây, các công trình ngăn sông được thi công theo công nghệ truyền thống. Dạng thi công này bao gồm các hình thức sau:

1. Thi công công trình trên bãi sông.
2. Xây dựng công trình ngay trên lòng sông dẫn qua kênh dẫn dòng được đào vòng qua khu vực thi công
3. Xây dựng từng phần ngay trên lòng sông, dẫn dòng qua phân sông còn lại.
Đối với các công trình xây dựng trên lòng sông, giữ khô hố móng là đê quay sang bằng đất đắp vây xung quanh hạng mục cần thi công. Công nghệ này thích hợp đối với các công trình xây dựng trên sông vừa và nhỏ, những nơi thuận tiện cho việc lấy đất và đắp đê quay sanh. Trong điều kiện sông rộng và sâu, những nơi dân cư đông đúc, điều kiện thi công chật hẹp thi công thép công nghệ truyền thống rất phức tạp và tốn kém, do vậy sử dụng cọc ván thép làm đê quay sanh là một giải pháp tối ưu.

Cọc ván thép được sử dụng làm khung vây để thi công các hạng mục công trình đã khẳng định được tính ưu việt, giải quyết được các vấn đề về kỹ thuật mà phương pháp thi công truyền thống không khắc phục được. Tuy nhiên, điều kiện ứng dụng và việc lựa chọn kết cấu khung vây là một vấn đề rất quan trọng quyết định đến an toàn thi công công trình và hiệu quả kinh tế của dự án. Mục tiêu của bài viết này là đưa ra một số đề xuất trong sử dụng cọc ván thép để thi công các công trình ngăn sông đồng bằng và ven biển.

Sử dụng cọc ván thép trong thi công công trình ngăn sông

Cọc ván thép được sử dụng khá phổ biến trong lĩnh vực giao thông để thi công các hạng mục hạ bộ công trình như bệ trụ cầu. Cọc ván được đóng liền nhau tạo thành vách đứng ngăn nước, giữ cho hố móng công trình được khô ráo trong suốt quá trình thi công. Trong lĩnh vực xây dựng công trình ngăn sông, cọc ván thép cũng được sử dụng với vai trò như đê quay trong công nghệ truyền thống. Khung vây cọc ván thép giữ cho hố móng luôn khô ráo, tạo điều kiện cho việc thi công các hạng mục công trình dưới lòng sông. Khung vây cọc ván thép phù hợp cho thi công các công trình trên lòng sông sâu mực nước thường lớn hơn 3m, nền công trình có hệ số thấm cao hoặc nơi có hiện tượng cát chảy. Kết cấu khung vây cọc ván thép trong xcây dựng công trình ngăn sông có 2 dạng chính. Khung vây một hàng cọc ván thép và khung vây hai hàng cọc ván thép.


Khung vây một hàng cọc ván thép

Kết cấu khung vây một hàng cọc ván thép được sử dụng khi móng hạng mục công trình hẹp. Kết cấu khung vây gồm các cọc ván thép đóng xỏ me kín khít với nhau đóng sâu vào đất nền. Chiều sâu cắm vào nền khoảng ½ chiều sâu cột nước. Các cọc ván thép được giữ ổn định bằng các tầng khung chống trong. Đối với khung vây dạng này thường phải đổ bê tông vữa dâng phản áp trong nước. Lớp bê tông này có tác dụng chống chân khung vây và chống đẩy trồi đất vào trong hố móng. Áp lực nước tác dụng lên cọc ván thép thông qua hệ khung chống trong này sẽ triệt tiêu nhau. Số lượng và khoảng cách giữa các tầng khung chống phụ thuộc vào độ cứng của loại cọc ván thép và kết cấu dầm chống trong. Thông thường từ 3 đến 4m, càng xuống sâu, khoảng cách giữa các tầng khung chống càng nhỏ.

Khung vây một hàng cọc ván thép chỉ nên sử dụng khi kích thước một trong hai chiều dài hoặc rộng của hạng mục thi công không quá 25m. Với kích thước lớn hơn thì kết cấu của khung chống trong thường mất ổn định, không đảm bảo an toàn cho thi công công trình. Lúc này nên sử dụng khung vây hai hàng cọc ván thép.


Khung vây hai hàng cọc ván thép

Khung vây hai hàng cọc ván thép được sử dụng khi thi công các hạng mục dưới lòng sông có diện tích rộng, kích thước hai chiều đều lớn. Kết cấu khung vây hai hàng cọc ván thép gồm hai vòng vây cọc ván thép xỏ me với nhau và đóng sâu vào đất nền, chiều sâu ngập trong đất khoảng ½ chiều sâu cột nước. Giữa hai hàng cọc ván thép là đất hoặc cát. Khoảng cách giữa hai hàng cọc ván thép phụ thuộc vào chiều sâu cột nước, thường chọn khoảng cách giữa hai hàng cọc ván thép là 0.8 lần chiều sâu cột nước.

Khung vây dạng này ổn định nhờ vào các thanh giằng néo và khối đất đắp giữa hai hàng cọc ván thép. Do các cọc ván thép được xảm và tự kín nước với nhau nên khối đất đắp trong khung vây nên chọn loại có góc ma sát lớn như cát hoặc đất pha cát để tăng ổn định và dễ dàng thi công bằng tàu hút.

Một số ứng dụng cọc ván thép trong thi công công trình ngăn sông:

Trong những năm gần đây, Viện Khoa học Thủy lợi đã ứng dụng cọc ván thép trong thi công cho một số công trình ngăn sông như đập Sông Cui - Long An, đập Thảo Long - Thừa Thiên Huế, cống Đò Điểm - Hà Tĩnh.

Đập Sông Cui gồm 2 khoang x 8m, cột nước sâu 6m, kết cấu dạng đập trụ đỡ, được thi công bằng khung vây một hàng cọc ván thép, đây là công trình thử nghiệm về kết cấu và biện pháp thi công. Giá thành xây dựng được đánh giá là ngang bằng với thi công theo công nghệ truyền thống nhưng thời gian lâu hơn.

Đập Thảo Long trên sông Hương gồm 15 khoang x 31.5m + 8m âu thuyền được thiết kế theo công nghệ đập trụ đỡ và thi công trong khung vây của một hàng cọc ván thép, công trình đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Việc sử dụng cọc ván thép để thi công đã giảm đáng kể chi phí xây dựng và quan trọng hơn là không phải đắp đê quay đất với khối lượng rất lớn ảnh hưởng tới tiêu thoát lũ trong thời gian thi công.

Cống Đò Điểm trên sông Nghèn gồm 12 khoang cửa tự động 8m, 4 khoang cửa ván cung 16m và 8m âu thuyền. Công trình được chia làm 5 phân đoạn, mỗi phân đoạn có kích thước 38.5m x 40m được thi công trong khung vây hai hàng cọc ván thép. Hiện nay đã thi công được 4 phân đoạn. Nếu thi công theo công nghệ truyền thống thì rất phức tạp và tốn kém vì sông sâu, dẫn dòng khó khăn và gây ngập lụt trong mùa mưa lũ.

Kết luận

Cùng với ứng dụng công nghệ mới trong kết cấu công trình thì thay đổi công nghệ thi công là cần thiết và phù hợp với khoa học tiến bộ hiện tại. Khung vây cọc ván thép là một trong những tiến bộ khoa học cần nghiên cứu ứng dụng rộng rãi trong xây dựng công trình thủy lợi bởi tính ưu việt của nó. Tuy nhiên không phải ở tất cả mọi điều kiện cọc ván thép đều phát huy hiệu quả cao hơn so với công nghệ truyền thống. Khung vây cọc ván thép sẽ có ưu thế hơn với những công trình xây dựng trên sông rộng và sâu, những nơi mặt bằng thi công chật hẹp, khó khăn về công tác giải phóng mặt bằng và những khu vực nền có hệ số thấm lớn, có hiện tượng cát chảy.

Tài liệu tham khảo
1. Execution of special geotechnical work. Sheet pile walls - European standard, June 1997.
2. http://www. Orientalsheetpiling.com/profile.asp.
3. Lê Văn Thông, Hotoshi Tanaka, Đăng Hải, Yoshihiko Taira - Cầu Kiền – Công trình cầu dây văng bê tông dự ứng lực ứng dụng công nghệ lắp hẫng các khối dầm hộp. Prestressed concrete Vol.46-No1, 2004 Japan.
Tác giả: TS. Nguyễn Văn Bản
Viện Khoa học Thủy lợi
Nguồn: Đặc san KHCN Thủy lợi

7/04/2011

Hanoi Metro, Vietnam


Project in Brief:
Project Type: Metro rail system
Location: Hanoi, Vietnam
Number of Metro Routes: Five
Expected Completion: 2020
Owner: Hanoi Metropolitan Rail Transport Project Board
Other Key Players: SYSTRA
Contractors: Samsung, Daewoo, Ska, Kumho and Kangnam


Hanoi Urban Metro (Hanoi Metro) is a metro rail system that will be developed in Hanoi, Vietnam, by 2020. The project is part of an integrated development programme for urban transport in Hanoi and will provide a safe, efficient and clean urban transportation system. It is the fourth-biggest project in Vietnam to utilise the Japanese Government’s official development assistance capital.

Hanoi is the capital of Vietnam and the country's second-largest city, with a population of about six million. Many trains, including services to Hai Phong and Ho Chi Minh City, depart from Hanoi station. The Union Express travels from Hanoi to Ho Chi Minh City, stopping at cities and towns along the route.

Commuters in Hanoi use motorbikes, buses, taxis and bicycles. The metro project is part of the Vietnam Ministry of Transport's master plan, which aims to reduce the use of private transport and enhance the urban environment.

The metro system will have five routes. The main route - line 3 - will be the first metro line in Hanoi. On completion, the route will provide transport to 200,000 passengers a day. It broke ground in September 2010 and is expected to become operational by the end of 2015.

The entire project is being carried out by Hanoi Metropolitan Rail Transport Project Board (HRB), formerly known as the Hanoi Authority for Tram and Public Transport Development Management (HATD). Technical studies of the system were completed in 2009.

Project


"The 12.5km pilot line will incorporate a 5.5km single track U-viaduct and a 4km twin tunnel."

The feasibility study for a Hanoi metro pilot route / line was completed in October 2005 and design of the pilot line started in 2007. The pilot route will be an east-westbound line and will connect 12 stations in the city bewteen Hanoi station and Nhon depot.

The 12.5km pilot line will incorporate a 5.5km single track U-viaduct and a 4km twin tunnel structure. The system will include 9.6km of elevated and 2.9km of underground sections, and will use 20m metro trains top transport 900 passengers in a single trip. The trains will run at 80km/h, covering the entire route in 20 minutes.

International consulting engineers HRB and SYSTRA signed two contracts to construct the pilot line. Each contract is worth €36m and the total cost of the pilot line is about €500m.

SYSTRA will assist with the commissioning, launch and operation of the service and will supervise the construction and manufacture of rolling stock. It also provided design studies and assessed bids.

The metro's infrastructure will include a viaduct, an underground section, stations, a depot and rolling stock maintenance centre and power supply stations. The construction of line two will begin in 2011 and is expected to be operational in January 2016.

Line routes

Hanoi Metro's routes will include Nam Thang Long to Tran Hung Dao, Nhon to Hanoi station, Cat Linh to Ha Dong and Yen Vien to Ngoc Hoi.

The route connecting Nam Thang Long and Tran Hung Dao will be 11.54km long and serve ten stations. The line will include an 8.55km underground section.
"The metro's infrastructure will include a viaduct, power supply stations and a depot."

The pilot line (line 3) between Nhon depot and Hanoi station will start at Nhon and travel to Cau Giay via National Highway 32, Ho Tung Mau and Xuan Thuy. It will also pass through Kim Ma, Nui Truc and Quoc Tu Giam.

The 13km-route connecting Cat Linh and Ha Dong will travel from Cat Linh to Thai Thinh via Hao Nam and Hoang Cau. From Thai Thinh the line will move towards National Highway 6, connecting Nga Tu So, Nguyen Trai, Tran Phu and Quang Trung.

Financing

The project is being coordinated and financed by several organisations including the World Bank, the Asian Development Bank and the European Investment Bank.

The latter has granted a €173m loan to help fund the construction of line 3.

Part of the project is being financed by Agence Française de Développement (AFD). The money provided by AFD is being used to construct the pilot line's infrastructure.

The project is being co-financed by bilateral overseas development assistance loans. They amount to €280m, of which €200m is tied and €80m is untied.
Source: http://www.railway-technology.com

6/11/2011

Ứng dụng cừ ván thép - Các dự án chi tiết tham khảo

Rochester Riverside - Kent (UK)(Đông Nam Nước Anh)
Đây là một dự án trọng điểm trong chương trình tái sinh vùng Medway do Hội đồng Medway chủ trì. Nó bao gồm 32 ha trong khu vực Brownfield với một bờ kè dài hơn 2,5 km dọc theo sông Medway. Dự án được lưa chọn để phát triển một khu phức hợp dân cư bao gồm 2,000 căn hộ, cửa hàng, khách sạn, quán cà phê, văn phòng, các cơ sở giáo dục, y tế và cộng đồng cùng các cơ sở và các khu vực giải trí.

Tập đoàn ArcelorMittal đã cung cấp các sản phẩm cừ ván thép cho quy mô dự án trên. Các bạn có thể tải về file PDF thông tin chi tiết bằng tiếng Anh cho dự án trên theo link này: http://www.arcelormittal.com/sheetpiling/uploads/files/AMCRPS_Rochester_Riverside_GB_E.pdf

Cảng hậu cần APENAL - Porto Amboim - Angola
Việc xây dựng bãi cảng mới sẽ cung cấp cho tổ hợp một khu vực làm việc cần thiết để xây dựng kết cấu cho ngành dầu khí và sẽ cho phép cho việc chuyển đổi công năng sử dụng trước đây của Phương Tiện Vận Chuyển Dầu Thô Siêu Kích Cỡ (Very Large Crude Carriers - VLCC) để biến thành Tàu Nổi Lưu Trữ (Floating Production Storage Offloading vessels - FPSOs), và hỗ trợ yêu cầu phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp dầu khí ngoài khơi của Angola.

Tập đoàn ArcelorMittal đã cung cấp các sản phẩm cừ ván thép cho dự án trên. Các bạn có thể tải về file PDF thông tin chi tiết bằng tiếng Anh cho dự án trên link tại:http://www.arcelormittal.com/sheetpiling/uploads/files/AMCRPS_Paenal_Angola_HQ_EN.pdf
Cầu Tàu Spool Base, Dande - Angola
Tổ hợp đa công năng 'Angoflex' được khánh thành tháng 3 năm 2006 và được nằm trong khu phức hợp hàng hải đa năng Dande, Angola.
Một công ty xây dựng Bồ Đào Nha được chọn là nhà thầu chính xây dựng cầu cảng này nằm ở phía bắc Luanda, gần cửa sông Dande, cho các dịch vụ của xà lan và tàu kéo rải đường ống. Nó được thiết kế độc đáo với một cầu tàu dài 600 m, và độ sâu đến 11 m khu vực mạn cập tàu.

Chúng tôi đã cung cấp các sản phẩm cừ ván thép cho dự án cầu cảng này. Các bạn có thể tải về file PDF thông tin chi tiết ứng dụng và các thông tin bổ ích khác về dự án bằng tiếng Anh với link ở: http://www.arcelormittal.com/sheetpiling/uploads/files/AMCRPS_Angola_%20Dande_Jetty.pdf

Đê chắn sóng cho "Marina Pez Vela"

Trong năm 2007 một nhóm các nhà đầu tư địa phương Costa Rica quyết định bắt đầu đàu tư dự án "Marina Pez Vela". Bến du thuyền với 308 chỗ đỗ cùng hệ thống đê chắn sóng là một trong những đê chắn sóng phức tạp và tinh tế nhất từng được thiết kế và thi công cho một bến du thuyền giải trí, cung cấp một bến cảng an toàn cho du thuyền và bảo vệ an toàn khu vực khỏi gió bão.


Để tham khảo các ứng dụng của cừ ván thép cho dự án cầu cảng du lịch này. Các bạn có thể tải về file PDF (0.42MB)thông tin chi tiết bằng tiếng Anh tại :http://www.arcelormittal.com/sheetpiling/uploads/files/AMCRPS_%20Costa_Rica_EN.pdf

Thành Phố Cảng Dubai
Các dự án hải cảng thành phố Dubai nằm gần cảng Rashid ở Dubai nó bao gồm một bán đảo nhân tạo 2km2 cung cấp cho khu vực các công năng sử dụng khác nhau như nhà ở, khu kinh doanh, bến du thuyền cũng như cảng sửa chữa tàu được trang bị hệ thống máy nâng hạ tàu cho khu cảng bảo trì sữa chữa.


Chúng tôi đã cung cấp các sản phẩm cừ ván thép cho dự án này, để biết thêm thong tin các ứng dụng các bạn có thể tải về file PDF (1.48MB)thông tin chi tiết bằng tiếng Anh:http://www.arcelormittal.com/sheetpiling/uploads/files/64d76a78f41249d4df6b457509e2e562.pdf

HSL (High Speed Line - Tàu Cao Tốc) Nam Hà Lan


Để hòa váo mạng lưới đường sắt quy mô xuyên suốt châu Âu trong năm 2007, Hà Lan đã hoàn tất các hạng mục quan trọng của hệ thống giao thông tương lai cho cộng đồng, các đường tàu tốc độ cao trên lảnh thổ Đất nức hoa Tulip.

Chúng tôi đã tham gia các công việc sau
-Cung cấp các giải pháp sắt thép để xây dựng & đường sắt
-Tư vấn vật liệu cho công việc xây dựng
-Tư vấn thi công / giám sát thực nghiệm thi công tại công trường.
Đính kèm là thông tin dự án: http://www.arcelormittal.com/sheetpiling/uploads/files/3c9b7051d2263fb3475699c4470ca02d.pdf

2/26/2011

THIẾT KẾ TƯỜNG CỪ VÁN THÉP

SAU ĐÂY LÀ BÀI GIẢNG SỐ 25 CỦA GIÁO SƯ L. Prieto-Portar năm 2008
Bài giảng dành cho các sinh viên kết cấu bao gồm bốn phần:
- Tường cừ đơn dạng conson (không neo, không giằng chống)
- Tường cừ có hệ neo
- Tường cừ trọng lực (cellular cofferdam)
- Các tổ hợp trong cầu cảng.

Cọc ván thép thép ban đầu được sử dụng cho giếng kín thi công các công trình tạm. Kể từ năm 1930 nó được sử dụng cho các công trình hàng hải thường xuyên, ví dụ như các kết cấu tường cầu cảng, cầu tàu, đê điều, ụ khô, âu tàu, bến cảng và tường ngăn lũ. Tuy nhiên các ứng dụng của cừ ván thép bị hạn chế do thiếu hiểu biết về kết cấu và các đ85c tính kỹ thuật. Giáo sư Gregory Tchebotarioff tại Trường Princeton đã có những đóng góp lớn về phân tích và thiết kế của cừ ván thép trong năm 1950.

Cọc ván thép cũng được sử dụng cho trụ cầu chịu lực đứng, tường chắn đất bảo vệ chống sạt lở trong các hố đào, cho các đường hầm, hầm chui đường sắt và đường cao tốc, và ứng dụng vĩnh cữu làm tường hoàn thiện trong các bãi đậu xe ngầm.

Cọc ván thép có khả năng chịu lực nén,lực kéo, chịu lực ngang với cường độ tải trọng lớn và linh hoạt.


Các loại cọc bản.

1) Cọc gỗ thường có kích cở nhỏ và liên kết âm dương (đực - cái)và chỉ hữu ích cho những các hố đào cạn với độ cao tự do H = 3 m. Hiện nay cọc bản gỗ chỉ được sử dụng
để ổn định các bức tường của hầm tạm thời trong khi lắp đặt các hệ thống cống rãnh và tiện ích khác. Nó có khả năng làm việc chịu lực từ ƒw 0,65-0,95fy

2) Cọc ván bê tông dự ứng lực.

3)Cọc ván thép được sử dụng thông dụng nhất bởi vì nó là loại duy nhất có sức kháng mũi cao xuyên qua các loại đá mềm hoặc đất sỏi. Nó được đóng hoặc rung vào các loại đá mềm hoặc đất sỏi và khả năng chịu lực cao từ ƒw = 0,60 -0,90 Fy.
Những lợi thế của việc sử dụng cọc ván thép làm tường chắn, (1)khả năng kháng mũi cao và chịu lực lớn khi thi công, (2) có trọng lượng tương đối nhẹ, (3) chiều dài cọc có thể được hàn nối gia tăng, và (4) chúng sẽ được rút lên sau khi thi công xong, và có thể sử dụng lại.

4) cọc ván nhôm.

5) Cọc ván nhựa (PVC).








Cừ ván thép.


Chi phí thấp
Độ đàn hồi, chịu lực cao
Thường được sử dụng
Có thể tái sử dụng
Chiều dài cọc được tăng lên bằng cách hàn hoặc nối bản mã bu lông
Bị ăn mòn
Có thể bảo dưỡng (sơn phủ, mạ kẽm chống ăm mòn điện hóa)

Cọc ván nhôm.

Không ăn mòn
Trọng lượng nhẹ (so với thép 490PCF)
Đắt
Giòn
Ít được sử dụng
Thép không gỉ là một giải pháp tốt hơn để thay thế cho nhôm

Các tiết diện thông thường của cọc ván thép như chữ U, chữ Z, dạng tấm phẳng.